Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2007

Bệnh ở tôm nuôi và đôi lời bàn

Bệnh ở tôm nuôi và đôi lời bàn

Nguồn: Tạp chí thủy sản, 3/2004

Có lẽ hiếm có cuộc hội thảo nào thu hút sự tham gia của số đông các nhà nghiên cứu về bệnh ở tôm sú nuôi như hội thảo về bệnh trong nuôi trồng thủy sản do Viện nghiên cứu NTTS I tổ chức cuối tháng 2 vừa qua tại Trạm nghiên cứu NTTS nước lợ ở Quý Kim (Hải Phòng). Không chỉ có các nhà nghiên cứu đến từ các cơ sở nghiên cứu khoa học trong ngành như Viện nghiên cứu NTTS I, Viện nghiên cứu NTTS II, Viện nghiên cứu Hải sản, Trung tâm nghiên cứu thủy sản III, mà còn từ các đơn vị ngoài ngành có liên quan như Viện Công nghệ sinh học, Trường đại học Quốc gia, . và cán bộ quản lý của nhiều Sở Thủy sản, Sở Khoa học công nghệ và đơn vị sản xuất thủy sản ở một số địa phương ven biển, đại diện một số vụ, cục, trung tâm của Bộ. Ðiều đó chứng tỏ sự quan tâm của nhiều người đến vấn đề bệnh tôm vốn có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển NTTS không chỉ ở nước ta mà cả ở nhiều quốc gia khác có nghề này.

Và mục đích của hội thảo cũng đã được xác định rất rõ ngay từ đầu, qua lời phát biểu ngắn gọn của tiến sĩ Nguyễn Việt Thắng, Thứ trưởng Bộ Thủy sản, là tìm giải pháp tổng hợp phòng ngừa bệnh là chính, và nếu xảy ra bệnh, phải tìm mọi cách chữa trị .


Bệnh tôm chuyện không phải mới:


Từ hơn chục năm nay, tôm sú nuôi bị bệnh và chết là chuyện đã từng xảy ra ở nhiều địa phương nhất là các tỉnh Nam Bộ nơi tập trung khoảng 80% diện tích nuôi tôm của cả nước. Thậm chí, vào giữa năm 1994, bệnh tôm xảy ra rộng khắp các tỉnh phía Nam đã gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng sâu rộng về xã hội ở những nơi có bệnh.

Ngay từ năm đó, ngành thủy sản đã đầu tư triển khai chương trình khảo sát nguyên nhân gây chết tôm nuôi ở các tỉnh phía Nam và đề ra các giải pháp khắc phục nhằm đưa nghề nuôi tôm tiếp tục phát triển. Nhiều nguyên nhân gây bệnh đã được xác định : do môi trường, do con giống, do quản lý, kỹ thuật . Cũng đã có hàng loạt đề xuất các giải pháp khắc phục, từ quy hoạch trại giống, tăng cường kiểm dịch, kiểm soát chất lượng giống, xây dựng và hướng dẫn người nuôi áp dụng các mô hình nuôi có năng suất và hiệu quả, tăng cường quản lý môi trường ao nuôi . ấy vậy mà từ đó, bệnh tôm vẫn xảy ra năm này qua tháng khác, làm lao đao bao người dân quê quanh năm giãi nắng dầm bùn nơi bãi lầy cửa sông ven biển.

Báo cáo kết quả NTTS năm 2003 của ngành đã đưa ra vài con số : cả nước có 546.757 ha nuôi tôm nước lợ thương phẩm, trong đó diện tích có tôm nuôi bị bệnh và chết là 30.083ha. Các tỉnh, thành ven biển từ Ðà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29.200ha nuôi tôm bị chết nhiều, chiếm 97,06% diện tích có tôm bị chết trong cả nước. Các bệnh xảy ra với tôm cũng vẫn như vậy, chủ yếu là bệnh virut đốm trắng (WSSV) bệnh MBV (Monodon Baculovirus), bệnh do vi khuẩn Vibrio, bệnh do ký sinh trùng, do dinh dưỡng và gần đây xuất hiện thêm bệnh phân trắng, teo gan ở một vài nơi. Ngay tại hội thảo, các báo cáo của các đơn vị nghiên cứu trong ngành đã cho thấy cụ thể hơn về tình hình bệnh tôm, nhất là bệnh virut đốm trắng ở từng vùng trong năm qua.

Kết quả kiểm tra bệnh ở tôm giống nhập về Hải Phòng và Quảng Ninh trong năm qua do Trạm nghiên cứu NTTS nước lợ thực hiện cho thấy tỷ lệ nhiễm virut đốm trắng từ 25 46,6%, trung bình 38,9% (xin lưu ý, tỷ lệ nhiễm cao nhất là tôm giống nhập từ Trung Quốc), tỷ lệ nhiễm MBV từ 43,3 60%. Và trong số 4 nguồn cung cấp giống về cho 2 tỉnh vùng Ðông Bắc Bộ này, có tới 3 nguồn có quá nửa số giống bị nhiễm bệnh MBV. Ðiều này liệu có phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả tất yếu là tỷ lệ tôm thương phẩm bị bệnh virut đốm trắng ở khu vực này từ 30,7-75% và bệnh MBV từ 37,5-57,7%?

Còn ở các tỉnh Bắc Trung Bộ ? Các số liệu do Trung tâm Môi trường và Dịch bệnh (Viện nghiên cứu NTTS I) đưa ra như sau : Thanh Hóa có hơn 40% diện tích nuôi tôm bị bệnh, thường là bệnh, virut đốm trắng, tập trung ở vùng nuôi tôm công nghiệp như Khu công nghiệp Hoằng Phụ, với 70/110ha nuôi tôm bị nhiễm bệnh. Nghệ An có 9,1 47,8% diện tích nuôi tôm bị bệnh virut đốm trắng; 25,6 30,4% bị bệnh MBV; 25 54,5% bị bệnh đầu vàng. ở Hà Tĩnh, trong số 150ha nuôi tôm bị bệnh, có 67ha bị bệnh virut đốm trắng, trong đó 27ha có tôm nuôi bị chết. ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, cũng có từ xấp xỉ trăm ha cho tới vài trăm ha nuôi tôm bị bệnh, nhiều chục ha bị bệnh phân trắng làm cho tôm còi cọc, nuôi dăm tháng chỉ đạt đến cỡ 80 100kg/con !

Tại các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ, theo Phòng Bệnh học thủy sản (Trung tâm nghiên cứu Thủy sản III), địa phương có tỷ lệ diện tích nuôi tôm bị bệnh thấp nhất là Khánh Hoà (14,3%), cao nhất là Ninh Thuận (52,4%). Tỷ lệ nhiễm bệnh virut đốm trắng ở tôm nuôi tại khu vực này tuy có giảm nhưng bệnh phân trắng, teo gan lại xảy ra hầu hết ở các vùng nuôi trọng điểm như Ninh Hải, Phan Rang, Ninh Phước có những nơi lên tới 90 95% tôm bị nhiễm bệnh, đặc biệt là ở những vùng nuôi trên cát.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu NTTS II, tại các tỉnh Nam Bộ khu vực nuôi tôm lớn nhất của cả nước, tỷ lệ nhiễm bệnh virut đốm trắng trên mẫu tôm có biểu hiện bệnh thu ở đầm nuôi quảng canh cải tiến là 56%, còn bệnh MBV là 50%. Bệnh virut đốm trắng gây chết tôm hàng loạt, tác hại lớn đến năng suất, sản lượng tôm của khu vực.

Và ngay những ngày đầu năm 2004 này, đã có những thông tin cho biết, tại nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long lại đa xảy ra tình trạng tôm nuôi bị chết và bệnh tôm lây lan nhanh ngay từ đầu vụ. Xem ra như vậy, bức tranh toàn cảnh về bệnh tôm không mấy sáng sủa hơn, cho dù biết rằng đã nuôi tôm là luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra bệnh. Các mầm bệnh được ém sẵn, và chỉ cần chờ thời cơ là bùng phát !


Còn đó những khoảng trống:


Các báo cáo đã gây ra sự tranh luận sôi nổi tại hội thảo. Qua những ý kiến phát biểu, cho thấy còn nhiều vấn đề học thuật cần được trao đổi thêm.

Trước hết, ngay cả đến tên gọi của bệnh cũng còn có sự khác nhau giữa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong và ngoài ngành. Tiến sỹ Bùi Quang Tề người đã có thâm niên kha khá trong lĩnh vực bệnh thủy sản - đã đưa ra một xêri với 13 tên gọi khác nhau của bệnh virut đốm trắng, và đề nghị thống nhất sử dụng trong giảng dạy, nghiên cứu.

Như đã viết ở trên, nguyên nhân xảy ra bệnh tôm đã được xác định từ lâu, chủ yếu do chất lượng giống không đảm bảo, do môi trường (có liên quan cả đến cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống cấp và xả nước) và do quản lý (cả về kỹ thuật, đầu tư ). Cùng với thời gian, đã biết rõ hơn về tác nhân gây bệnh virut đốm trắng, vật chủ mang mầm bệnh, sự lan truyền của bệnh. Cũng đã có nhiều phương pháp chẩn đoán được áp dụng, kể cả những kỹ thuật hiện đại như sử dụng chuỗi các phản ứng nối tiếp nhau để khuyếch đại số lượng bản sao của một trình tự ADN đích, còn gọi là kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction), hoặc phương pháp lai tại chỗ (In situ hybridisation) . Riêng về kỹ thuật PCR, các thiết bị để tiến hành phương pháp này gần như đã phủ sóng toàn bộ các tỉnh ven biển có nuôi tôm. Vậy mà ngay tại hội thảo, vấn đề được tranh luận nhiều lại là trình tự, nội dung và phương pháp phát hiện virut đốm trắng. Bên cạnh đó là phương pháp thu mẫu. Lấy mẫu theo kiểu nào : chọn lọc hay ngẫu nhiên ? Với cách lẫy mẫu nào sẽ đạt được kết quả kiểm dịch con giống phản ánh đúng và khách quan chất lượng giống? Kết quả đó liệu có còn phụ thuộc vào chất lượng phòng kiểm nghiệm, vào năng lực kiểm nghiệm của người thực hiện ? Chưa nói đến có ý kiến từ một đơn vị sản xuất còn cho rằng có thể lắm, chỉ cần một khoản tiêu cực phí nho nhỏ là có ngay một cái giấy chứng nhận kiểm dịch cho những bao tôm giống chở đi. Và những con giống ấy dù với chất lượng thế nào, có hay không mang mầm bệnh vẫn sẽ vô tư về với đầm nuôi, vô tư bơi lội để đến lúc nào đó lại vô tư bỏ ăn, dạt vào bờ và ngửa bụng, rồi chết !

Xem ra, cái thiếu ở đây là một quy trình chẩn đoán bệnh bằng kỹ thuật PCR được tiêu chuẩn hóa ở cấp độ ngành, mang tính bắt buộc cho mọi cơ sở được giao nhiệm vụ kiểm dịch, để chủ động phát hiện mầm bệnh ngay từ tôm giống, ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh trong quá trình nuôi. Ðược biết, một bản dự thảo quy trình chẩn đoán bệnh virus đốm trắng trên các loài thuộc họ tôm He Penaeidae bằng kỹ thuật PCR đang được gấp rút soát xét lại để trình Bộ ký ban hành

Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu dễ thống nhất với nhau về phương thức lan truyền bệnh, chủ yếu theo chiều ngang nghĩa là qua nước và thức ăn. Mỗi khi môi trường nuôi bị xấu đi, nghĩa là khi đó các mầm bệnh có cơ hội tuyệt vời để làm bùng phát bệnh virut đốm trắng trên diện rộng. Biết vậy, nhưng việc kiểm soát chất lượng nước cũng là kiểm soát môi trường nuôi tuy đã có nhiều biện pháp được đưa ra : cả cơ học (quạt nước, sục khí, xi phông đáy ao), hóa học (dùng hóa chất, vôi ), và sinh học (dùng chế phẩm sinh học), nhưng môi trường nuôi ở nhiều vùng ngày càng trở nên xấu đi, nhất là với những ao nuôi thâm canh năng suất cao, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của vụ nuôi trước mắt cũng như lâu dài.

Bên cạnh đó, còn một loại đầu vào của ao là thức ăn nuôi tôm. Với một thị trường kinh doanh thức ăn nuôi tôm lộn xộn và bị buông lỏng quản lý, chất lượng thức ăn không được kiểm soát chặt chẽ, cộng với các chiêu tiếp thị theo kiểu sống chết mặc tôm, tiền tôi bỏ túi của một vài nhà sản xuất kinh doanh thức ăn nuôi tôm, và bản thân các loại thức ăn nuôi tôm lại được sử dụng bởi những người nuôi hám thu lợi nhuận theo kiểu ăn xổi , thì đây cũng là một nguy cơ tiềm tàng gây ô nhiễm môi trường nuôi, dẫn đến bệnh cho tôm nuôi.

Thực tế sản xuất đang đòi hỏi phải xiết chặt quản lý ở mọi khâu : sản xuất, kiểm dịch và lưu thông con giống; kiểm soát chất lượng và việc kinh doanh các loại thức ăn, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm, đẩy nhanh công tác biên soạn và ban hành những tiêu chuẩn, quy trình và văn bản quy phạm pháp luật cùng các chế tài kèm theo trong từng lĩnh vực.

Các kết quả nghiên cứu khoa học thật đáng trân trọng. Nhưng từ các kết quả đó, việc áp dụng vào thực tiễn xem ra còn một khoảng cách nhất định. Ðiều gì đã làm hạn chế như vậy ? Vai trò của thông tin khoa học, của khuyến ngư, của công tác phổ biến và chuyển giao kỹ thuật đến với người sản xuất chắc chắn sẽ rất quan trọng để tạo ra chiếc cầu nối giữa hai bên bờ này, xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa nhà khoa học và người sản xuất, góp phần đem lại hiệu quả cao và bền vững cho nghề nuôi tôm.

Hội chứng tôm suy dinh dưỡng và biện pháp phòng ngừa

Hội chứng tôm suy dinh dưỡng và biện pháp phòng ngừa

Nguồn tin: Phú Yên, 1/7/2007


Hội chứng suy dinh dưỡng ở tôm sú biểu hiện qua hai bệnh phổ biến là mềm vỏ kinh niên và cong thân. Trong nhiều năm qua, bệnh gây nhiều thiệt hại cho người nuôi, vì tôm bệnh khó hồi phục, dị tật, chậm lớn, làm giảm sản lượng khi thu hoạch. Do đó, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh để áp dụng các biện pháp phòng chống có hiệu quả là mối quan tâm hàng đầu của những người nuôi tôm.

A/. HỘI CHỨNG TÔM SUY DINH DƯỠNG:

Mềm vỏ kinh niên: Bệnh do thiếu dinh dưỡng và nước nhiễm chất độc bởi các loại thuốc bảo vệ thực vật, hoặc chất lượng nước, đất ao không thích hợp cho tôm; do trong thức ăn dùng nuôi tôm thiếu chất khoáng hoặc thiếu một số vitamin, nhất là vitamin D để thúc đẩy quá trình hấp thụ các chất khoáng. Cũng có thể do thức ăn kém chất lượng, ôi thiu hoặc cho ăn thiếu. Ngoài ra nuôi tôm trong điều kiện môi trường có nhiều biến động gây sốc, làm rối loạn hoạt động trao đổi chất của tôm cũng gây ra mềm vỏ.

Tôm mắc bệnh vỏ mỏng, nhăn nheo, gợn sóng và tình trạng mềm vỏ kéo dài trong vài tuần, tôm bệnh, dễ bị sinh vật bám ký sinh và mầm bệnh tấn công. Tôm yếu, chậm lớn, dần dần kiệt sức và chết. Ngoài ra, nếu tôm sống sót cũng còi cọc, phân đàn.

Cong thân: Ở hầu hết các giai đoạn, tôm sú đều có thể nhiễm bệnh này. Bệnh xảy ra khi tôm yếu do suy dinh dưỡng hay môi trường bất lợi cùng với việc tôm bị sốc trong lúc trời nóng. Khi bị sốc, tôm búng đuôi và cơ thể bị cong mà không duỗi ra được. Tôm bệnh nhẹ còn có thể bơi lội được với tình trạng lưng bị gù. Bệnh nặng, tôm thường nằm nghiêng một bên. Bệnh làm tôm khó lột xác, bơi lội, bắt mồi khó khăn. Một số tôm có thể phục hồi nhưng ít tăng trọng, sức đề kháng kém, dễ nhiễm bệnh.

B/. PHÒNG TRỊ BỆNH:

Trong suốt quá trình nuôi phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, dùng thức ăn có chất lượng tốt, đồng thời tránh các điều kiện có thể gây sốc tôm, nhất là lúc trời nóng.

Về dinh dưỡng: Bổ sung các chất dinh dưỡng cho tôm, nhất là giai đoạn tôm lột xác. Bổ sung các loại sản phẩm dinh dưỡng cho tôm:

Hn hợp của Phosphorous hữu cơ, 15 loại vitamin và acid amin thiết yếu, để tăng cường quá trình trao đổi chất và hấp thu dưỡng chất, giúp tôm khỏe mạnh, đề kháng bệnh tật, mau lớn. Trong Vimekat for shrimp còn có vitamin D, là vitamin cần thiết cho sự hấp thu Canxi-Phospho hình thành vỏ tôm. Lượng dùng: 120ml/45-50kg thức ăn, dùng 3 ngày liên tục/tuần.

Bổ sung Canxi-Phospho và khoáng chất với tỉ lệ cân đối, giúp vỏ tôm mau cứng, chắc, bóng, đẹp sau khi lột. Lượng dùng: 5ml/kg thức ăn mỗi ngày, ngưng dùng thuốc 1 ngày trước khi tôm lột vỏ.

Cc enzyme tiêu hóa và vi sinh vật hữu ích đường ruột giúp tôm tiêu hóa tốt thức ăn và ngăn chặn các bệnh đường ruột. Lượng dùng: 1kg/250-500kg thức ăn, cho ăn thường xuyên.

Vitamin C: Tăng cường sức đề kháng, chống stress, chống sốc. Lượng dùng: 2g/kg thức ăn.

Về môi trường: Không nuôi tôm với mật độ quá cao. Đảm bảo độ pH từ 7,5-8,5 trong suốt quá trình nuôi. Tránh để nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt chảy vào ao nuôi, hạn chế sử dụng các loại thuốc trừ sâu để tẩy ao. Thường xuyên thay đổi nước trong ao để cung cấp đủ oxy và thức ăn tự nhiên. Tránh hiện tượng tảo nở hoa gây biến động điều kiện môi trường.


Bệnh & cách phòng bệnh cho tôm sú giống

Một số bệnh tôm giống thường gặp và biện pháp phòng trị

1. Dấu hiệu mắc bệnh của tôm sú, tôm he giống trong ao ương:

- Tôm giảm ăn hoặc bỏ ăn,lớn chậm.

- Mất phần phụ, vỏ bị tổn thương, vỏ mềm kéo dài.

- Hình dạng tôm biến đổi, màu sắc không tươi.

- Bơi không bình thường.

- Tôm chết dần dần (nguyên nhân thường do vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng hay do dinh dưỡng xấu gây ra).

- Tôm chết nhiều và đột ngột (nguyên nhân thường do môi trường xấu như : hàm lượng oxy trong nước thấp, nước bị chua phèn, hàm lượng khí độc NH3 và H2S tăng, nhiệt độ và độ mặn thay đổi đột ngột ... ).

2. Nguyên tắc phòng bệnh cho tôm giống:

- Chọn tôm giống khoẻ mạnh, không có mầm bệnh; màu sắc, ngoại hình và quy cỡ phải đạt yêu cầu quy định.

- Thường xuyên giữ môi trường ao ương nuôi sạch, không bị nhiễm bẩn.

- Cho tôm giống ăn đầy đủ, thức ăn sạch và đảm bảo chất lượng.

- Chăm sóc, quản lý ao ương đúng yêu cầu quy định.

3. Một số bệnh thường gặp ở tôm sú, tôm he giống và biện pháp phòng, trị quy định trong Bảng 3:

Bảng 3 - Cách phòng, trị một số bệnh thường gặp của tôm giống

Tên bệnh, nguyên nhân

Triệu chứng

Cách phòng

Cách trị

1. Bệnh MBV

do virus

- Tôm bơi lờ đờ, thân

màu sẫm

- Tôm kém ăn, chậm lớn, cá thể nhỏ.

- Chọn PL15 khỏe

- Giữ môi trường ao sạch cho tôm ăn đầy đủ.

Khó chữa trị

2. Bệnh IHHNV do virus ở gan và biểu mô

Tôm chết từ từ kéo dài trong 2 - 3 tuần

- Chọn PL15 khỏe

- Giữ môi trường ao sạch cho tôm ăn đầyđủ.

Loại bỏ tôm bị bệnh

3. Bệnh HPV do virus

- Tôm tăng trưởng chậm, kém ăn, ít hoạt động.

- Có nhiều sinh vật bám ở thân, cơ đuôi có các chấm mờ

- Chọn PL15 khỏe

- Giữ môi trường ao sạch cho tôm ăn đầy đủ.

Loại bỏ tôm bị bệnh

4. Bệnh vỏ đốm

nâu và hoại tử

do vi khuẩn

- Phần phụ của tôm

bị tổn thương

- Vỏ tôm có màu sắc

nhợt nhạt

- Ương với mật độ thấp

- Giữ môi trường ao sạch

- Oxytetracy -

clin 0,5- 2 g/m3

- Bột hạt chè

10 - 20 g/ m3

5.Bệnh phát sáng

do vi khuẩn

Tôm bị phát sáng

trong tối và chết dần

- Tẩy trùng nước ao

bằng Chlorine

- Giữ môi trường ao sạch

- Nitro furazoli - done 20ml/ m3

- Hoặc Erythro - mycine 2-5g/m3

6. Bệnh đỏ thân

do thức ăn bị ôi

thối, gây độc

Thân tôm có màu đỏ

nhạt đến đỏ, bị mất

sắc tố

- Giữ môi trường ao sạch

- Sử dụng thức ăn đảm

bảo chất lượng

Chưa có hiệu

quả

7. Bệnh mềm vỏ kéo dài dobị thiếu dinh dưỡng, môi trường xấu, bị nhiễm thuốc trừ sâu

Vỏ tôm mỏng và nhăn nheo

- Giữ môi trường ao sạch

- Sử dụng thức ăn đảm

bảo chất lượng.

- Cho tôm ăn

đầy đủ

- Thay nước

thường xuyên

8. Bệnh do ao có

pH thấp

Tôm chậm lột xác,

tăng trưởng chậm

- Chọn vị trí ao thích hợp

- Xây dựng ao ở nơi đất

không bị chua phèn

- Dùng vôi khử

chua, hoặc

- Bón phân cho

tảo phát triển.


Nguồn: Trung tâm Tin học - Bộ Thuỷ sản